(GDVN) - Báo Giáo dục Việt Nam cập nhật đáp án môn Lịch sử khối C đợt thi ĐH, CĐ năm 2012.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luyện thi đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luyện thi đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Đáp án đề thi Đại học môn Lịch sử khối C 2012
Written By Unknown on Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012 | 16:27
(GDVN) - Báo Giáo dục Việt Nam cập nhật đáp án môn Lịch sử khối C đợt thi ĐH, CĐ năm 2012.
Đáp án đề thi đại học môn Toán khối D 2012
(GDVN) - Báo Giáo dục Việt Nam cập nhật đáp án môn Toán khối D đợt thi ĐH, CĐ năm 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012

ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
ĐÁP ÁN MÔN VĂN KHỐI D 2012
Phân tích truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn
Written By Unknown on Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012 | 21:55
truyện ngắn "Thuốc" của Lỗ Tấn
1- Tác giả Lỗ Tấn.
- Lỗ Tấn ( 1881-1936 ) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh mà chết vì không có thuốc, Lỗ Tấn ôm ấp nguyện vọng học nghề thuốc, để chữa bệnh cho những người nghèo như cha mình.
- Tuổi trẻ Lỗ Tấn nhiều lần đổi nghề để tìm con đường cống hiến cho dân tộc: nghề hàng hải, khai mỏ rồi chuyển sang nghề y. Đang học nghành y ở Nhật, một lần xem phim ông thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh hớn hở đi xem quân Nhật chém một người Trung Quốc chống Nhật. Ông giật mình nhận ra rằng: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ để phanh phui căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm cách chạy chữa. Con đường gian nan chọn nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn của lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại vừa nói lên tâm huyết của Lỗ Tấn với dân tộc.
- Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc đầu thế kỉ XX: “Trước Lỗ Tấn , chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn, có vô vàn Lỗ Tấn” (Quách Mạc Nhược ). Ông được tôn vinh là linh hồn dân tộc. Ông chuyên vạch trần những thói hư tật xấu của nhân dân để mọi người tìm cách chạy chữa, tự phấn đấu vươn lên, tự cường dân tộc. Tác phẩm chính của Lỗ Tấn là AQ chính truyện, Cố hương…
2- Tác phẩm:
a-Hoàn cảnh ra đời: Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ Tứ ( Phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh ) bùng nổ.
b-Tóm tắt tác phẩm:
Một đêm mùa thu gần về sáng, Lão Hoa đem số tiền vợ chồng dành dụm được ra pháp trường, gặp đao phủ mua một cái bánh tẩm máu tử tù về cho thằng Thuyên ,con trai lão ăn để chữa bệnh lao. (Mua thuốc, uống thuốc )(người kể chuyện là lão Hoa)
Trời sáng, quán trà của vợ chồng lão Hoa đông khách dần , mọi người bàn tán về cái chết của tử tù. Tử tù là Hạ Du, một người cách mạng bị xử chém vì chống Nhật. Mọi người cho Hạ Du là thằng điên, thằng khốn nạn và khen Cụ Ba là khôn vì đã tố cáo cháu mình để lấy tiền thưởng. Họ cũng cho vợ chồng lão Hoa là may vì tìm được máu để tẩm bánh bao làm thuốc (bàn về thuốc). (người kể chuyện biết tuốt)
Tiết thanh minh vào mùa xuân năm sau, bà Hoa đi thăm mộ con ( thằng Thuyên vẫn chết vì bệnh lao dù đã ăn bánh bao tẩm máu người). Bà gặp bà mẹ của Hạ Du. Mẹ Hạ Du lúc đầu còn ngại ngùng, nhưng sau đó bà Hoa đã bước qua ranh giới phân chia khu nghĩa địa dành cho dành cho người nghèo sang khu dành cho ngưòi chết chém để an ủi mẹ Hạ Du. Cả hai bà mẹ đều hết sức kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa (hậu quả của thuốc). (người kể chuyện là bà Hoa)
II – Phân tích :
1-Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người:
Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.
-Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.
-Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác. Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.
-Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ. Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước, cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.
Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại: nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”.
2- Các nhân vật:
a-Hình ảnh đám đông quần chúng:
-Buổi sáng sớm, ở pháp trường, lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù về chữa bệnh cho con thì bị một đám đông xô đẩy nhau ào ào, chen bật lão suýt ngã. Đó là những người đi xem hành hình nhà cách mạng Hạ Du. Đám đông này khiến ta liên tưởng đến đám đông đi xem hành hình một người Trung Quốc chống Nhật khiến Lỗ Tấn đi đến quyết định: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân.
-Khi trời sáng hẳn, ở quán trà đã đông khách của lão Hoa, Cậu Năm Gù, Cả Khang ,người râu hoa râm… cùng bàn tán về cái chết của Hạ Du với thái độ miệt thị. Họ cho anh là cái “thằng khốn nạn”, “hắn điên thật rồi”. Và họ cho rằng trong cái chết của Hạ Du có hai người gặp may. May nhất là Cụ Ba nhờ tố cáo cháu mình nên được thưởng một số tiền lớn mà gia đình khỏi bị liên luỵ, còn lão Hoa thì có máu Hạ Du để chấm bánh bao làm thuốc chữa bệnh cho thằng Thuyên.
Tóm lại, qua hai sự việc trên, và bằng ngôn ngữ của người kể chuyện, ta thấy đám đông quần chúng thật là mê muội. Sự hiểu biết và thái độ của họ về những vấn đề của đất nước, về bệnh tật, về cuộc đời còn quá hạn chế. Nói như Lỗ Tấn thì họ đang “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ. Phải làm thế nào đó để thức tỉnh họ. Ta cũng thấy nhân vật Hạ Du là một người yêu nước nhưng anh cũng thật cô đơn.
b-Nhân vật Hạ Du:
Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện.
Hạ Du là một người yêu nước, một nhà cách mạng tiên phong, dũng cảm xả thân vì nghĩa lớn.
Nhưng anh rất cô đơn, không ai hiểu anh kể cả mẹ anh. Anh đã đổ máu vì quần chúng thế mà họ lại lấy máu anh để tẩm bánh bao chữa bệnh lao.
Hạ Du chính là hình ảnh tượng trưng của cuộc cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng góp phần đánh đổ chế độ phong kiến Trung Quốc nhưng lại xa rời quần chúng nên thất bại. Qua hình tượng Hạ Du, Lỗ Tấn muốn bày tỏ lòng kính trọng với cuộc cách mạng này.
3-Cảnh hai bà mẹ đi thăm mộ con:
-Thời gian nghệ thuật của truyện tiến triển từ mùa thu Hạ Du bị hành hình đến mùa xuân trong tiết thanh minh năm sau lúc hai bà mẹ đi thăm mộ con. Cái chết của hai người con cũng như chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng. Thời gian nghệ thuật đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả.
-Nghĩa địa của làng mộ dày khít như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, có một con đường mòn ở giữa chia làm hai: Nghĩa địa người chết chém phía bên trái nghĩa địa người nghèo phía bên phải. Con đường mòn là biểu tượng cho một tập quán xấu đã trở thành thói quen. Hai bà mẹ đã bước qua con đường mòn để đến gặp nhau vì đồng cảm ở tình thương con sâu sắc.
-Cả hai bà mẹ cùng rất kinh ngạc khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa: “hoa trắng hoa hồng nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Bà mẹ Hạ Du cứ lẩm bẩm câu hỏi “Thế này là thế nào?”. Câu hỏi vừa hàm chứa sự sửng sốt, vừa ẩn giấu niềm vui vì có người đã hiểu con mình. Đồng thời đã là câu hỏi thì đòi hỏi có câu trả lời. Việc làm của Hạ Du đã khiến mọi người phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Với vòng hoa, Lỗ Tấn đã bày tỏ sự trân trọng và tiếc thương đối với người chiến sĩ cách mạng tiên phong.
2- Đặc sắc nghệ thuật:
-Truyện có lối viết cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng (chiếc bánh bao tẩm máu, vòng hoa, con đường mòn…)
-Cách xây dựng nhân vật cũng rất đặc biệt: không đặt nhân vật cách mạng vào vị trí chủ yếu mà đặt ở tuyến ngầm phía sau nhân vật đám đông để khắc hoạ chủ đề thức tỉnh quần chúng của truyện.
-Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba truyền thống nhưng nhiều đoạn đã chuyển điểm nhìn trần thuật sang nhân vật làm cho truyện sinh động và giàu chất trữ tình hơn.
ST
Tìm hiểu đoạn trích tác phẩm "Ông già và biển cả" của nhà văn Hê-minh-uê
Tìm hiểu đoạn trích tác phẩm "Ông già và biển cả" của nhà văn Hê-minh-uê
1.Tiểu sử tác giả:
Ơ-nixt Hê-minh-uê (1899- 1961): sinh trưởng trong gia đình khá giả tại một thành phố nhỏ ngoại vi Chi cagô nước Mỹ.
Ông yêu thích thiên nhiên hoang dại: thuở nhỏ thường theo cha tới vùng núi rừng, thích phiêu lưu mạo hiểm.
Từng nhập ngũ trong đại chiến I, đại chiến II.
18 tuổi bước vào nghề phóng viên, từng có mặt ở chiến trường Ý, Tây Ban Nha, Pháp, làm phóng viên mặt trận, dựng phim, viết kịch.
Ông chủ yếu sống ở Cu-ba, quen nếp sống giản dị của người dân chất phác.
Mất năm 1961 tại đây.
=> Nhà văn Mĩ để lại dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới.
2.Sự nghiệp sáng tác:
Tác phẩm chính:
+ Tiểu thuyết nổi tiếng của Hê-minh-uê: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940). Ông già và biển cả (1952)
+ Truyện ngắn của Hê-minh-uê được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiếm thấy. Mục đích của nhà văn là "Viết một áng văn xuôi đơn giả và trung thực về con người".
+ Ông là người đề xướng nguyên lý “tảng băng trôi” (bảy phần chìm, một phần nổi) trong tác phẩm văn học: nhà văn không công khai phát ngôn ý tưởng của mình mà xây dựng hình tượng có sức gợi để người đọc rút ra phần ẩn ý. Một trong những biểu hiện của nguyên lý trên là độc thoại nội tâm, dùng ẩn dụ, biểu tượng...
+ Hê-minh-uê được tặng Giải Pu-lit-dơ (1953)-giải thưởng văn chương cao nhất của Hoa Kì và Giải thươngtr Nô-ben về văn học (1954)
3.Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời và tóm tắt tác phẩm “Ông già và biển cả”
Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm “ Ông già và biển cả”. Bối cảnh của tác phẩm là ngôi làng chài yên ả bên cảng La-ha-ba-na. Phu-en-téc, một thuỷ thủ trên con tàu của ông, được xem là nguyên mẫu của Xan-ti-a-gô. Trước khi được in thành sách, truyện đã được đăng trên tạp chí Đời sống.
+ Tác phẩm gây tiếng vang lớn và hai năm sau Hê-minh-uê được trao giải Nô-ben.
Tóm tắt tác phẩm :
Chuyện kể về ông lão đánh cá vùng nhiệt lưu tên là Xan-ti-a-gô, tám mươi bốn ngày liền không kiếm được con cá nào. Thế rồi lão một mình ra khơi và một con cá kiếm lớn mắc mồi. Sau cuộc vật lộn ba ngày hai đêm cực kỳ căng thẳng và nguy hiểm, lão bị nó quẫy mạnh ngã vập cả mặt, máu chảy đầy cả má, hai bàn tay bị dây câu cứa nát ứa máu, lão cũng giết được con các kiếm. Nhưng lúc quay vào bờ, từng đàn các mập hung dữ theo rỉa thịt con cá. Lão phải đơn độc chiến đẫu đến kiệt sức với lũ cá mập. Tuy vậy, lão vẫn nghĩ “không một ai cô đơn nơi biển cả”. Khi vào đến bờ, con cá kiếm “dài hơn chiếc thuyền có tới sáu bảy tấc” chỉ còn trơ bộ xương. Ông rã rời trở về lều, nằm trên giường ông nghĩ: “chẳng là gì cả, ta đã đi quá xa”, trong giấc ngủ lại “mơ về những con sư tử”.
4. Chủ đề truyện
Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô quật cường, người chiến thắng con cá kiếm bằng kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê gửi gắm một thông điệp: trong bất cứ hoàn cảnh nào “con người có thể bị huỷ diệt nhưng không hề bị đánh bại”.
5.Xuất xứ- vị trí đoạn trích SGK :
+ Đoạn trích nằm ở cuối truyện.
+ Đoạn trích kể về việc ông lão Xan-ti-a-gô rượt đuổi và khuất phục được con cá kiếm
+ Đoạn văn tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của Hê-minh-uê: luôn đặt con người đơn độc trước thử thách. Con người phải vượt qua thử thách vượt qua giới hạn của chính mình để luôn vươn tới đạt được mước mơ khát vọng của mình. Hai hình tượng ông lão và con cá kiếm đều mang ý nghĩa biểu tượng gợi ra nhiều tầng nghĩa của tác phẩm. Đoạn văn tiêu biểu cho nguyên lý “Tảng băng trôi “ của Hê-minh-uê.
6.Ý nghĩa biểu tượng trong đoạn trích
+ Ông lão và con cá kiếm. Hai hình tượng mang một vẻ đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng đối lập.
+ Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình.
+ Con cá kiếm là đại diện cho tính chất kiêu hùng vĩ đại của tự nhiên.
+ Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với con người không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ vừa bình thường giản dị nhưng đồng thời cũng rất khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng theo đuổi một lần trong
( Sưu tầm)
Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương
Aragông (1897-1982)
Aragông là nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Pháp trong thế kỷ 20. Hành trình thế kỷ của ông cũng là hành trình của chân lý nghệ thuật và hành trình lý tưởng cách mạng. Nếu “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng… Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước” thì Enxa đã “tái sinh” đời ông và khơi nguồn cảm hứng dào dạt thi ca của ông:
Là người lính từng tham dự thế chiến lần thứ nhất và lần thứ hai. Ba thập niên trôi qua mà tâm hồn Aragông vẫn u ám, chán nản. Năm 31 tuổi ông gặp Enxa cô gái Nga kiều diễm, nữ văn sĩ, tâm hồn ông được hồi sinh, như ông đã viết:
Enxa là người vợ thủy chung, là bạn văn chương chí thiết, là đồng chí chiến đấu sinh tử có nhau của Aragông. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, có lúc Aragông tự ví đời ông “như một trái cây, bị sâu ăn ba mươi năm một nửa, còn nửa kia ít nhất ba mươi năm nữa, ông trả cho Enxa để cắm ngập răng vào” (Aragông lấy Enxa năm ông 31 tuổi)
Aragông để lại hàng nghìn trang tiểu thuyết qua các tác phẩm như “Những khu phố”, “Những hành khách trên xe”, “Ôrêliêng”, “Những người cộng sản”, “Tuần lễ thánh”, v.v… Văn nghiệp rạng ngời của Aragông là ở “Vườn thơ Enxa”, gồm có 5 khúc ca chính: “Đôi mắt và trí nhớ”, “Cuốn tiểu - thuyết chưa hoàn thành”, “Các nhà thơ”, “Enxa” và “Anh chàng say đắm Enxa”.
Có thể nói hình tượng Enxa cũng là tâm hồn, là tình yêu và lẽ sống cao đẹp của Aragông. Người ta nhắc tên Aragông là nhắc đến tên tuổi một trí thức Pháp lỗi lạc, một chiến sĩ yêu nước chống phát xít, một nhà văn, nhà thơ từng viết nên những khúc ca được ngợi ca là “tác phẩm loại hay nhất của thơ ca châu Âu thế kỷ 20” (M.Alighe).
Bài thơ “Enxa ngồi trước gương”
Bài thơ “Enxa ngồi trước gương” được Aragông viết vào cuối năm 1942, đầu năm 1943, sau được in trong tập “Tiếng kèn trận Pháp” xuất bản năm 1946, một năm sau khi thủ đô Paris được giải phóng. Nó được đánh giá là “những vần thơ sáng bừng lên ngọn lửa” trong những năm tháng Aragông – Enxa cùng chiến đấu trong Phong trào kháng chiến chống phát xít Đức, hoạt động bí mật giữa thủ đô Paris đang bị quân thù chiếm đóng.
Bài thơ gồm có 30 câu, 4 khổ đầu 20 câu thơ nói về Enxa chải tóc; 5 khổ sau gồm 10 câu thơ diễn tả tâm tư của Enxa và suy ngẫm của tác giả. Không có dấu chấm câu giữa các dòng thơ; các điệp ngữ và lặp hình ảnh ở một tần số cao thể hiện bút pháp nghệ thuật độc đáo của Aragông mà ta cảm nhận.
1. Mái tóc Enxa là một hình ảnh đầy ấn tượng được điệp lại rất nhiều lần: “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ… Chiếc lược phân chia ánh lửa vàng óng ả… Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi”… Mái tóc vàng ấy được gắn liền với từ “lửa” tạo nên hình ảnh ẩn dụ không chỉ ngợi ca nhan sắc kiều diễm của Enxa mà còn khẳng định ý chí, nghị lực của nữ chiến sĩ đang kiên cường chống phát xít xâm lược!
Bài thơ được viết vào cuối 1942 đầu 1943 khi thế chiến thứ 2 đang diễn ra ác liệt. Cuộc chiến đấu chống họa phát xít đẫm máu đã được 4 năm, đang bước sang năm thứ 5. Cả châu Âu và thủ đô Paris đang bị phát xít Đức giày xéo. Aragông đã nói rõ điều đó:
Có hiểu được tính hiệu “thứ 5… hàng tuần” mới cảm nhận được ý thơ “bi kịch của ta”, mới cảm nhận được hình ảnh “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ - Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa”…
2. Cùng với hình ảnh “mái tóc vàng rực rỡ” là hình ảnh “tấm gương soi” cũng được nhắc lại rất nhiều lần: “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi… Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi,… Cuộc đời oái oăm như tấm gương soi… Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi…” – “Tấm gương soi” và từ “trí nhớ” gắn liền với nhau như hình với bóng; tất cả đầu mang hàm nghĩa; tấm gương phản chiếu tâm hồn, tấm gương chiếu sáng cuộc đời (cuộc thế chiến 2, cuộc chiến đấu), tấm gương của tình yêu, của tình bạn thủy chung, trong sáng:
3. Câu thơ “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi – Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ” là một câu thơ đẹp đầy ý vị. Tác giả lấy thời gian (một ngày dài), lấy không gian (bên tấm gương soi), lấy cử chỉ (chải miết mái tóc) - để diễn tả tâm tư day dứt, dằn vặt của Enxa. Nàng đau khổ vì nước Nga quê hương, nước Pháp, quê chồng đang bị phát xít Đức giày xéo. Ngọn lửa căm thù và uất hận quân xâm lược đang nung nấu trong tâm can nàng. Ý chí chiến đấu kiên cường và nghị lực lớn lao đang thắp sáng tâm hồn người nữ chiến sĩ đang đấu tranh cho tự do:
Có lúc đó là những suy nghĩ về sống và chết, về chiến đấu và hy sinh cho tự do của các chiến sĩ yêu nước; tên tuổi và khí phách mãi mãi ngời sáng: “Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi – Các diễn viên bi kịch của ta đây – và đấy là các diễn viên ưu tú”. Những “diễn viên ưu tú” ấy là các chiến sĩ yêu nước Pháp, trong đó có hàng ngàn đảng viên Cộng sản Pháp, những đồng chí chiến đấu của Aragông – và Enxa, những anh hùng như Pêri, trước họng súng quân xâm lược vẫn hiên ngang, bất khuất: “Nếu phải đi trở lại – Tôi đi lại đường này… Anh hát dưới làn đạn - Cờ đỏ dựng lên rồi…” (Bài ca của người hát trong ngục rù tra tấn).
4. Ẩn hiện và thấp thoáng sau những hình ảnh về mái tóc vàng rực rỡ, về tấm gương soi,… là hình ảnh nhà thơ - chủ thể trữ tình – khi ngắm nhìn “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ”, để rồi đăm chiêu suy ngẫm về “bi kịch của chúng ta”, về cuộc chiến đấu mất, còn, để tiêu diệt quân phát xít man rợ của các chiến sĩ yêu nước – các diễn viên ưu tú - giữa “đám lửa đêm dài” trong chiến tranh thế giới lần thứ 2:
Phần cuối bài thơ (trong bản tiếng Pháp và trong bài thơ dịch), từ “và” được điệp lại 5 lần, đứng ở vị trí đầu câu thơ: “Và đấy là… Và chẳng nêu tên… Và rõ ý sâu xa… Và mái tóc vàng… Và lẳng lặng chải…” – đã làm cho cảm xúc trữ tình dân lên cao trào, thắm thiết… Tâm tư, tình cảm của nhà thơ trở nên da diết, sôi nổi và mạnh mẽ vô cùng. Tự hào về người bạn đời thủy chung. Tự hào về các chiến hữu kiên cường, anh dũng “các diễn viên ưu tú”. Tự tin về con đường giải phóng và tự do:
Thật khó mà nói lên cảm nhận về tình cảm của thơ Aragông qua một bản dịch thơ? Trong cuộc chiến đấu đẫm máu giữa thế chiến khốc liệ, khi chân trời thắng lợi còn xa vời chưa hé rạng đông, thế mà câu thơ sáng lên trong màu vàng rực rỡ của mái tóc, trong tâm thế của người nữ chiến sĩ soi gương, mải miết chải tóc “như lơ đãng dạo khúc đàn êm ả”… là sự biểu hiện cao đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời và tin tưởng mãnh liệt. “Enxa ngồi trước gương” là một khúc ca trữ tình và chiến đấu đầy thi vị về một tình yêu đẹp; tình yêu lứa đôi, tình chiến hữu, tình yêu tự do chan hòa với tình yêu nước và yêu lý tưởng cách mạng.
“Enxa ngồi trước gương” là một giai điệu trầm hùng của “Tiếng kèn trận Pháp” vang lên, trong ngọn gió thời đại. Một nửa thế kỷ đã đi qua mà ta vẫn còn nghe văng vẳng bên tai.
ST
Aragông là nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Pháp trong thế kỷ 20. Hành trình thế kỷ của ông cũng là hành trình của chân lý nghệ thuật và hành trình lý tưởng cách mạng. Nếu “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng… Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước” thì Enxa đã “tái sinh” đời ông và khơi nguồn cảm hứng dào dạt thi ca của ông:
“Và cuộc đời tôi rút cuộc
Tóm lại ở tên nàng Enxa”
Tóm lại ở tên nàng Enxa”
Là người lính từng tham dự thế chiến lần thứ nhất và lần thứ hai. Ba thập niên trôi qua mà tâm hồn Aragông vẫn u ám, chán nản. Năm 31 tuổi ông gặp Enxa cô gái Nga kiều diễm, nữ văn sĩ, tâm hồn ông được hồi sinh, như ông đã viết:
“Anh quả thật đã sinh từ môi ấy
Cuộc đời anh khởi sự tự em đây”
Cuộc đời anh khởi sự tự em đây”
Enxa là người vợ thủy chung, là bạn văn chương chí thiết, là đồng chí chiến đấu sinh tử có nhau của Aragông. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, có lúc Aragông tự ví đời ông “như một trái cây, bị sâu ăn ba mươi năm một nửa, còn nửa kia ít nhất ba mươi năm nữa, ông trả cho Enxa để cắm ngập răng vào” (Aragông lấy Enxa năm ông 31 tuổi)
Aragông để lại hàng nghìn trang tiểu thuyết qua các tác phẩm như “Những khu phố”, “Những hành khách trên xe”, “Ôrêliêng”, “Những người cộng sản”, “Tuần lễ thánh”, v.v… Văn nghiệp rạng ngời của Aragông là ở “Vườn thơ Enxa”, gồm có 5 khúc ca chính: “Đôi mắt và trí nhớ”, “Cuốn tiểu - thuyết chưa hoàn thành”, “Các nhà thơ”, “Enxa” và “Anh chàng say đắm Enxa”.
Có thể nói hình tượng Enxa cũng là tâm hồn, là tình yêu và lẽ sống cao đẹp của Aragông. Người ta nhắc tên Aragông là nhắc đến tên tuổi một trí thức Pháp lỗi lạc, một chiến sĩ yêu nước chống phát xít, một nhà văn, nhà thơ từng viết nên những khúc ca được ngợi ca là “tác phẩm loại hay nhất của thơ ca châu Âu thế kỷ 20” (M.Alighe).
Bài thơ “Enxa ngồi trước gương”
Bài thơ “Enxa ngồi trước gương” được Aragông viết vào cuối năm 1942, đầu năm 1943, sau được in trong tập “Tiếng kèn trận Pháp” xuất bản năm 1946, một năm sau khi thủ đô Paris được giải phóng. Nó được đánh giá là “những vần thơ sáng bừng lên ngọn lửa” trong những năm tháng Aragông – Enxa cùng chiến đấu trong Phong trào kháng chiến chống phát xít Đức, hoạt động bí mật giữa thủ đô Paris đang bị quân thù chiếm đóng.
Bài thơ gồm có 30 câu, 4 khổ đầu 20 câu thơ nói về Enxa chải tóc; 5 khổ sau gồm 10 câu thơ diễn tả tâm tư của Enxa và suy ngẫm của tác giả. Không có dấu chấm câu giữa các dòng thơ; các điệp ngữ và lặp hình ảnh ở một tần số cao thể hiện bút pháp nghệ thuật độc đáo của Aragông mà ta cảm nhận.
1. Mái tóc Enxa là một hình ảnh đầy ấn tượng được điệp lại rất nhiều lần: “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ… Chiếc lược phân chia ánh lửa vàng óng ả… Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi”… Mái tóc vàng ấy được gắn liền với từ “lửa” tạo nên hình ảnh ẩn dụ không chỉ ngợi ca nhan sắc kiều diễm của Enxa mà còn khẳng định ý chí, nghị lực của nữ chiến sĩ đang kiên cường chống phát xít xâm lược!
Bài thơ được viết vào cuối 1942 đầu 1943 khi thế chiến thứ 2 đang diễn ra ác liệt. Cuộc chiến đấu chống họa phát xít đẫm máu đã được 4 năm, đang bước sang năm thứ 5. Cả châu Âu và thủ đô Paris đang bị phát xít Đức giày xéo. Aragông đã nói rõ điều đó:
“Ngay giữa hồi bi kịch của ta đây
Như thứ năm cứ hàng tuần ngồi đó”.
Như thứ năm cứ hàng tuần ngồi đó”.
Có hiểu được tính hiệu “thứ 5… hàng tuần” mới cảm nhận được ý thơ “bi kịch của ta”, mới cảm nhận được hình ảnh “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ - Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa”…
2. Cùng với hình ảnh “mái tóc vàng rực rỡ” là hình ảnh “tấm gương soi” cũng được nhắc lại rất nhiều lần: “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi… Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi,… Cuộc đời oái oăm như tấm gương soi… Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi…” – “Tấm gương soi” và từ “trí nhớ” gắn liền với nhau như hình với bóng; tất cả đầu mang hàm nghĩa; tấm gương phản chiếu tâm hồn, tấm gương chiếu sáng cuộc đời (cuộc thế chiến 2, cuộc chiến đấu), tấm gương của tình yêu, của tình bạn thủy chung, trong sáng:
- “Như cố tình nàng giày vò trí nhớ
Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi”
- “Một ngày dài ngồi soi vào trí nhớ
Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi”
- v.v…
Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi”
- “Một ngày dài ngồi soi vào trí nhớ
Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi”
- v.v…
3. Câu thơ “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi – Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ” là một câu thơ đẹp đầy ý vị. Tác giả lấy thời gian (một ngày dài), lấy không gian (bên tấm gương soi), lấy cử chỉ (chải miết mái tóc) - để diễn tả tâm tư day dứt, dằn vặt của Enxa. Nàng đau khổ vì nước Nga quê hương, nước Pháp, quê chồng đang bị phát xít Đức giày xéo. Ngọn lửa căm thù và uất hận quân xâm lược đang nung nấu trong tâm can nàng. Ý chí chiến đấu kiên cường và nghị lực lớn lao đang thắp sáng tâm hồn người nữ chiến sĩ đang đấu tranh cho tự do:
“Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ
Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa
Ngay giữa hồi bi kịch của ta đây”.
Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa
Ngay giữa hồi bi kịch của ta đây”.
Có lúc đó là những suy nghĩ về sống và chết, về chiến đấu và hy sinh cho tự do của các chiến sĩ yêu nước; tên tuổi và khí phách mãi mãi ngời sáng: “Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi – Các diễn viên bi kịch của ta đây – và đấy là các diễn viên ưu tú”. Những “diễn viên ưu tú” ấy là các chiến sĩ yêu nước Pháp, trong đó có hàng ngàn đảng viên Cộng sản Pháp, những đồng chí chiến đấu của Aragông – và Enxa, những anh hùng như Pêri, trước họng súng quân xâm lược vẫn hiên ngang, bất khuất: “Nếu phải đi trở lại – Tôi đi lại đường này… Anh hát dưới làn đạn - Cờ đỏ dựng lên rồi…” (Bài ca của người hát trong ngục rù tra tấn).
4. Ẩn hiện và thấp thoáng sau những hình ảnh về mái tóc vàng rực rỡ, về tấm gương soi,… là hình ảnh nhà thơ - chủ thể trữ tình – khi ngắm nhìn “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ”, để rồi đăm chiêu suy ngẫm về “bi kịch của chúng ta”, về cuộc chiến đấu mất, còn, để tiêu diệt quân phát xít man rợ của các chiến sĩ yêu nước – các diễn viên ưu tú - giữa “đám lửa đêm dài” trong chiến tranh thế giới lần thứ 2:
“Chiến lược phân chia ánh lửa vàng óng ả,
Làm lóe sáng trong tôi bao trí nhớ”
Làm lóe sáng trong tôi bao trí nhớ”
Phần cuối bài thơ (trong bản tiếng Pháp và trong bài thơ dịch), từ “và” được điệp lại 5 lần, đứng ở vị trí đầu câu thơ: “Và đấy là… Và chẳng nêu tên… Và rõ ý sâu xa… Và mái tóc vàng… Và lẳng lặng chải…” – đã làm cho cảm xúc trữ tình dân lên cao trào, thắm thiết… Tâm tư, tình cảm của nhà thơ trở nên da diết, sôi nổi và mạnh mẽ vô cùng. Tự hào về người bạn đời thủy chung. Tự hào về các chiến hữu kiên cường, anh dũng “các diễn viên ưu tú”. Tự tin về con đường giải phóng và tự do:
“Các diễn viên bi kịch của ta đây
Và đấy là các diễn viên ưu tú
Và chẳng nêu tên mọi người đều rõ
Và rõ ý sâu xa đám lửa đêm dài
Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi
Và lẳng lặng chải ánh vàng rực lửa”
Và đấy là các diễn viên ưu tú
Và chẳng nêu tên mọi người đều rõ
Và rõ ý sâu xa đám lửa đêm dài
Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi
Và lẳng lặng chải ánh vàng rực lửa”
Thật khó mà nói lên cảm nhận về tình cảm của thơ Aragông qua một bản dịch thơ? Trong cuộc chiến đấu đẫm máu giữa thế chiến khốc liệ, khi chân trời thắng lợi còn xa vời chưa hé rạng đông, thế mà câu thơ sáng lên trong màu vàng rực rỡ của mái tóc, trong tâm thế của người nữ chiến sĩ soi gương, mải miết chải tóc “như lơ đãng dạo khúc đàn êm ả”… là sự biểu hiện cao đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời và tin tưởng mãnh liệt. “Enxa ngồi trước gương” là một khúc ca trữ tình và chiến đấu đầy thi vị về một tình yêu đẹp; tình yêu lứa đôi, tình chiến hữu, tình yêu tự do chan hòa với tình yêu nước và yêu lý tưởng cách mạng.
“Enxa ngồi trước gương” là một giai điệu trầm hùng của “Tiếng kèn trận Pháp” vang lên, trong ngọn gió thời đại. Một nửa thế kỷ đã đi qua mà ta vẫn còn nghe văng vẳng bên tai.
ST
Tóm tắt tắc tác phẩm Ông Già Và Biển Cả
Tóm tắt nội dung
Ông Già Và Biển Cả thuật lại một câu chuyện xảy ra ở bờ biển Nam Mỹ, ngoài khơi hải đảo Cuba. Ông lão đánh cá Xăngchiagô (Santiago) đã già lắm rồi. Ông mơ ước đánh được một mẻ cá lớn, xứng đáng với uy danh một thời của ông ngày còn trai trẻ. Một mình một con thuyền ông ra khơi quyết lập một chiến công rạng rỡ cuối cùng. Trải qua nhiều ngày lênh đênh mặt bể, gian nan, vất vả, ông lão đánh được một con cá lớn chưa từng thấy. Nhưng sau đó, trên đường về, ông bị nhiều đàn cá mập kéo đến vây quanh con cá ông vừa đánh được để ăn thịt. Ông lão đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập. Nhưng thật đau đớn! Sau khi đuổi được chúng đi, ông lão nhìn lại con cá của mình thì thấy nó chỉ còn có bộ xương. Ông lão lại trở về túp lều nghèo nàn của mình. Tủi nhục, đau xót, nhưng trong lòng ông vẫn chưa hết hẳn những ước mơ đẹp đẽ...
Với một nội dung tưởng chừng như đơn giản ấy, thiên tiểu thuyết này đã nêu lên được những nét rất sâu sắc và cảm động về sức mạnh và khát vọng của con người.Ông Già Và Biển Cả mang một phong cách độc đáo, giàu chất thơ và triết lý gợi cho người đọc suy nghĩ đến nhiều vấn đề lớn về cuộc sống và về số phận của con người trong cái xã hội còn có những ông già đánh cá sống nghèo đói và cô độc như ông lão Xăngchiagô.
Sách được dịch theo nguyên bản tiếng Pháp: LE VIEIL HOMME ET LA MER của Jean Dutourd - Nhà xuất bản Gallimard, Paris - có đối chiếu với nguyên văn.
ST .
Hêminguây - Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”
Hêminguây - Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”
Vài nét về tác giả
Hêminguây (1899 – 1961) là văn hào Mĩ, được Giải thưởng Nobel về văn chương năm 1954. Từng tham gia Thế chiến I, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha và Thế chiến II với tư cách là người lính, là phóng viên mặt trận. Ông để lại dấu ấn trong cả 3 thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch.
Có tác phẩm nói lên tâm trạng một thế hệ thanh niên trong và sau chiến tranh như “Giã từ vũ khí”. Có tác phẩm kể chuyện săn bắn, đấu bò như “Chết vào buổi chiều”, “Những ngọn đồi xanh châu Phi”,… Với 2 kiệt tác “Chuông nguyện hồn ai”, “Ông già và biển cả”, tên tuổi Hêminguây lừng danh trên thế giới.
Văn phong của Hêminguây giản dị, trong sáng, ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc về thế giới tự nhiên và con người. chất liệu sống ngồn ngộn, độc thoại nội tâm, tình huống biến hóa, căng thẳng, đa nghĩa và đa thanh, mà ông gọi là nguyên lí “tảng băng trôi” có một phần nổi và 7 phần chìm, mang hàm nghĩa và triết lí sâu xa, thú vị.
Tiểu thuyết “Ông già và biển cả”
- Tóm tắt
Lão chài Xanchiagô sống cô độc trong một túp lều trên bờ biển ngoại ô thành phố LaHabana. 84 ngày đêm ra khơi gặp vận xúi quẩy, đi đi về về chẳng câu được một con cá nào. Lần này ông lại ra khơi, đưa thuyền đến tận vùng Giếng Lớn nơi có nhiều cá nhất. Buông câu từ sáng sớm mãi đến non trưa phao câu mới động đậy. Cá mắc câu kéo chiếc thuyền chạy. Lão gò lưng, gập mình kéo lại. Từ trưa tới chiều, rồi một ngày một đêm nữa trôi qua. Bàn tay bị dây câu cứa rách nát ứa máu. Không một mẩu bánh bỏ vào bụng. Chân tê dại, tay trái bị chuột rút, mệt lả nhưng lão không chịu buông tha: “Mình sẽ cho nó biết sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu! “Sáng ngày thứ 3 cá đuối dần, lão chài dùng lao đâm chết cá, buộc cá vào đuôi thuyền, hân hoan trở về bến. Con cá nặng độ 6, 7 tấn dài hơn thuyền khoảng 7 tấc. Trong màn đêm, đàn cá mập đuổi theo chiếc thuyền, lăn xả vào đớp và rỉa con cá kiếm. Lão chài dùng mái chèo quật tới tấp vào đàn cá dữ trong đêm tối. Lão chài về tới bến, con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương. Lão nằm vật ra lều ngủ thiếp đi, “mơ thấy đàn sư tử”. Sáng hôm sau, bé Manôlin chạy sang lều rồi đi gọi bạn chài đến săn sóc ông.
- Ý nghĩa
Tiểu thuyết “Ông già và biển cả” mang vẻ đẹp nhân văn. Là bản anh hùng ca ca ngợi con người và sức lao động của con người.
Cuộc đời chỉ có sắc màu ý nghĩa: sống phải có khát vọng. Cái giá của khát vọng và hạnh phúc ở đời là thước đo tầm vóc của con người chân chính.
Phân tích ngắn gọn cảnh “Đương đầu với đàn cá dữ”
Sau 87 (84 + 3) ngày đêm ra khơi đánh cá, ông lão Xanchiagô mới câu được con cá kiếm khổng lồ, nặng độ 6, 7 tấn, dài hơn chiếc thuyền câu khoảng 7 tấc. Đói khát, mệt rã rời, đôi tay bị dây câu do cá kéo cứa rách, ứa máu. Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!”
Ở đời có lúc miếng ăn đã kề miệng vẫn còn bị kẻ khác giật mất! Trường hợp lão Xanchiagô mất con cá kiếm quả đúng như vậy. Trên đường giong cá về bến, lão chài lại gặp chuyện chẳng lành. Đàn cá mật đã thục mạng lao vào thuyền lão để đớp mồi. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” diễn ra vô cùng bi tráng. Lão chài bị bất ngờ, bị động hoàn toàn. Thế và lực quá chênh lệch. Cuộc chiến diễn ra giữa biển đêm. Lão chài chẳng khác nào một kẻ mù giữa vòng vây của đàn cá dữ! Chỉ có một cái chày làm vũ khí. Lão thân cô thế cô, lại bị kiệt sức sau 3 ngày 2 đêm đuổi bắt con cá kiếm mắc câu. Kẻ thù của lão chài là một đàn cá mập đông đảo, khát mồi và cực kỳ hung dữ. Cá lại được màn đêm, được sóng biển che giấu, bất ngờ xuất hiện. Đàn cá biến hóa, lão chài căng mắt nhìn chỉ thấy “những chiếc vi cá mật xẻ dọc ngang trên mặt biển và những đường lân tinh lấp lánh”. Những hàm răng cá mập táp mồi “sần sập”, lưng đàn cá dữ cuộn sóng làm cho “chiếc thuyền câu chòng chành”. Không chỉ con cá kiếm mà ngay cả lão chài cũng sẽ trở thành mồi ngon cho đàn cá dữ đói mồi! Hêminguây đặc tả lưng cá mập đội con thuyền câu đã vẽ nên một cảnh hãi hùng, đầy nguy hiểm!
Cuộc chiến đấu mỗi lúc một dữ dội. Người đọc có cảm giác là bao nhiêu cá mập ở vùng biển “Giếng Lớn” đã kéo tới bủa vây lấy chiếc thuyền câu. Lão già như bị màn đêm bịt mắt, “vụt nháo nhào lên những chiếc đầu” cá mập. Lão bị động “kháng cự một cách tuyệt vọng với một kẻ thù mà lão chỉ nghe bằng tai, bằng cảm giác “Thật bất ngờ cái chày – vũ khí chiến đấu - bị cá dữ ngoạm “giật phắt đi”. Lão Xanchiagô đâu phải là kẻ tầm thường, khoanh tay đầu hàng đàn cá mập! Thành quả lao động được làm nên bằng mồ hôi và máu, không thể nào để đàn cá dữ cướp đi. Nhanh nhẹn và dũng mãnh, lão tháo tay lái làm vũ khí chiến đấu. Cuộc chiến giữa người với đàn cá dữ ngày một trở nên dữ dội quyết liệt! Lão già lấy hết sức bình sinh, nắm chắc tay lái, thẳng cánh, vụt túi bụi ra bốn phía”. Lão chài bị đàn cá mập khép chặt vòng vây! Đàn cá dữ túm tụm lại đằng sau lái, con nọ tiếp con kia. Khi thì cả bầy một lượt, chúng đâm bổ vào xác con cá. Bầy cá dữ khát mồi không chịu rời chiếc thuyền câu “ngoạm xong một miếng quay ra rồi quay trở lại. Xác cá bị rỉa, bị đớp, bị ngoạm. Những mảnh thịt mà đàn cá mập đớp được” lấp lánh dưới nước!
Con cá kiếm khổng lồ thế mà giờ đây chỉ còn một ít thịt dính vào đầu! Con cá cuối cùng xông đến đớp vào đầu cá. Có thể nói đây là một hiệp đấu ác liệt, cá và người đánh giáp lá cà. Lão chài dũng mãnh “hoa cái tay lái lên và quật đúng vào răng hàm cá mập”. Ông lão giáng trả như vũ bão “quật liên hồi hai bận, ba bận, mười bận!”. Bất thình lình chiếc tay lái gẫy rắc, lão dũng mảnh vẫn tiếp tục quật vào đầu cá… vụt nữa làm cho “con cá mập nhả con cá và oằn mình lăn xa”.
Như người lính chiến ngoan cường trên chiến địa, đánh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuối cùng, hết đạn thì dùng lê tử chiến với giặc, lão chài Xanchiagô cũng vậy! Một mình đơn độc chống với đàn cá dữ giữa biển đêm, khi cái chày bị cá mập ngoạm mất, lão bình tĩnh và sáng suốt xử lý tháo ngay tay lái làm vũ khí. Càng đánh càng hăng, lão đã quật tới tấp vào đầu cá dữ, quật mạnh đến nỗi gãy cả mái chèo. Lão đã giáng cho con cá mập sau cùng một đòn chí mạng!
Việc đánh bắt được con cá kiếm nặng 6, 7 tấn là một chiến công! Cuộc đấu với đàn cá dữ không cân sức, thịt con cá kiếm bị đàn cá mập ngoạm sạch, đớp sạch, nhưng lão vẫn còn giữ được bộ xương cá, giữ được con thuyền câu. Câu nói của lão: “Thuyền của mình vẫn tốt nguyên và chẳng sứt mẻ một tẹo nào, trừ chiếc tay lái ra không kể. Cái đó cũng dễ thay!” - điều đó cho thấy, tuy thất trận nhưng lão chài vẫn còn tiềm lực! Nhất định lão lại ra khơi. Giữ vững niềm tin sau chiến bại không phải ai cũng có ý chí ấy! Lúc quật vào đàn cá dữ, ông lão cảm thấy một mùi kì dị trong mồm: “vừa tanh như sắt, vừa ngòn ngọt”. Mùi kỳ dị ấy là máu và cũng là dư vị cay đắng của sự thất bại! Như một sự tổng kết sau trận đánh, lão Xanchiagô nhổ toẹt máu xuống biển và nói: “Cho chúng mày nuốt đi lũ cá mật kia. Nuốt đi để tưởng tượng là vừa giết chết được một con người”. Một cái nhổ toẹt đầy khinh bỉ. Một câu nói vừa giễu cợt vừa thách thức kẻ thù! Trong chiến bại mà lão chài vẫn ngạo nghễ! Đó là tâm thế và bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” được miêu tả rất sống động.
Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Các chi tiết nghệ thuật được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Người thì máu đầy mồm, cá thì lăn xả vào đớp mồi, bị quật nhừ tử. Lời đối thoại của Xanchiagô với đàn cá mập lúc thì thách thức khinh bỉ, lúc thì thừa nhận thất bại. Vốn liếng còn đó, lão chài rồi lại ra khơi. chỉ có một mình đơn phương độc mã đương đầu với đàn cá mập thế mà sau cuộc chiến, lão chài lại nói: Gió cũng là bạn tốt của ta… đôi khi cũng là bạn tốt… biển cả với những bạn hữu và kẻ thù của ta… “Gió làm căng cánh buồm. Biển có đàn cá dữ, nhưng cũng có cánh chim hiền lành, biển là nơi làm ăn của lão và các bạn chài. Cách nghĩ của lão chài mộc mạc, bình dị nhưng ham sống biết bao.
Ở đời cái đáng sợ là không nhận diện được kẻ thù. Cái đáng sợ nữa không phải là sự thất bại mà là chưa biết tìm ra nguyên nhân thất bại. Ở đây, lão chài Xanchiagô tự nói với mình: “Ta thử nghĩ xem cái gì đã làm cho ta thất bại nhỉ? Không, không có cái gì cả. Ta đã đi xa quá! Đó là phần ngầm của “tảng băng trôi” mà Hêminguây muốn gửi gắm bạn đọc: Mọi khát vọng đều đẹp, đều đáng yêu. Khát vọng quá lớn, vượt xa khả năng hiện thực thì sẽ thất bại. Hình ảnh lão chài Xanchiagô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” này cho ta bài học về sức mạnh, khí phách và niềm tin trong lao động và - cuộc sống.
Tìm hiểu tác phẩm "Số phận con người" của Sô lô khốp
Tìm hiểu tác phẩm "Số phận con người" của Sô lô khốp
1.Tiểu sử:
Mikhain A-lêch-xan-đrô-vích Sôlôkhôp (1905-1984), sinh ra trong một gia đình nông dân, vùng thảo nguyên sông Đông, thuộc tỉnh Rôxtốp của Liên Xô cũ.
Thời nội chiến: nghỉ học, tham gia cách mạng và bắt đầu viết văn. Năm 1923, Sôlôkhốp quyết tâm lên Maxcơva, tại đây ông làm đủ nghề để kiếm sống và thực hiện giấc mộng viết văn.
Năm 1925 vì cảm thấy “thiếu quê hương” nên ông trở về quê và bắt tay vào sự nghiệp sáng tác “Sông Đông êm đềm” .
Thời kỳ chiến tranh vệ quốc (1941-1945), ông khoác áo lính, làm phóng viên chiến trường, xông pha trên nhiều mặt trận, nhiều bài ký sự, chính luận, truyện ngắn nổi tiếng được ra đời..
2.Sự nghiệp sáng tác:
Tác phẩm:
- Tập truyện “Truyện sông Đông” (1926)
- Bộ tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm” bắt đầu sáng tác năm 1925 hoàn thành năm 1940, được tặng giải thưởng Nôben về văn học năm 1965.
- “Đất vỡ hoang” (1932-1959)
Đề tài: + Sôlôkhốp sinh ra và lớn lên ở vùng Sông Đông. Cuộc sống của ông gắn bó máu thịt với con người và cảnh vật quê hương trong những bước chuyển mình đau đớn và phức tạp của lịch sử. Chính vì thế những tác phẩm của ông thấm đẫm hơi thở và linh hồn của cuộc sống vùng sông Đông.
Là người trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ông thấu hiểu được những vinh quang và nỗi đau khổ của những số phận con người trong cuộc chiến tranh cũng như sau cuộc chiến đó. Cảm hứng về chiến tranh đã tạo ra một bước ngoặt mới trong sáng tác của ông
Năm 1965, Sôlôkhốp được tặng giải thưởng Nô-ben về văn học, ông là nhà văn vĩ đại của nền văn học Xô viết và thế giới.
3. Tóm tắt tác phẩm “Số phận con người” của Sô-lô-khốp
Anđrây Xô-cô-lốp là chiến sĩ Hồng quân Liên Xô đã tham gia chống phát xít trong thế chiến thứ hai và đã phải gánh chịu nhiều tổn thất nặng nề: bản thân bị tù đày, bị thương, vợ và hai con chết vì bom đạn, con trai hy sinh đúng vào ngày chiến thắng phát xít, khi tiến công vào Beclin. Xô-cô-lôp giải ngũ, không còn nơi nương tựa, ông phải đến ở nhờ nhà bạn và làm lái xe chở hàng.
Tại đây ông gặp Va-ni-a, chú bé mồ côi cha mẹ vì chiến tranh, cũng đang lang thang đói rách. Xô-cô-lôp nhận bé làm con nuôi. Bên nhau hai cha con sống thật hạnh phúc. Nhưng số phận vẫn chưa buông tha hai cha con. Trong một chuyến chở hàng, Xô-cô-lôp gặp rủi ro, bị tước bằng lái xe. Thế là mất việc, hai bố con dắt nhau đi lang thang “khắp nẻo đường nước Nga” để kiếm sống nhưng vẫn có một niềm tin vào cuộc sống, vào sức mạnh con người và Xô-cô-lôp vẫn giấu không cho bé Va-ni-a biết nỗi đau khổ riêng tư của mình.
4.Giá trị nội dung và nghệ thuật qua đoạn trích “Số phận con người” của Sô-lô-khốp
a.Nội dung:
-Giá trị hiện thực:
Tố cáo chiến tranh; phản ánh số phận, tính cách kiên cường và trung hậu của con người Nga trong và sau chiến tranh.
Giá trị nhân đạo:
Quan tâm số phận nghiệt ngã của con người; niềm cảm thương, trân trọng ý chí con người.
Niềm cảm phục của tác giả về sự hy sinh của thế hệ đi trước để tạo niềm tin cuộc sống cho thế hệ kế tiếp.
-Ý nghĩa tư tưởng
Khám phá và ca ngợi tính cách Nga, đó là sự cứng rắn ý chí kiên cường có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và tâm hồn nhân hậu sâu sắc.
Số phận con người của Sô-lô-khốp đã khiến ta suy nghĩ nhiều hơn đến số phận của từng con người cụ thể sau chiến tranh. Tác phẩm đã khẳng định một cách viết mới về chiến tranh: không né tránh mất mát, không say với chiến thắng mà biết cảm nhận chia sẻ những đau khổ tột cùng của con người sau chiến tranh. Từ đó mà tin yêu hơn đối với con người. Số phận con người khẳng định sức mạnh của lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, nghị lực con người. Tất cả những điều đó sẽ nâng đỡ con người vượt lên số phận.
b. Đặc sắc nghệ thuật:
- Kiểu truyện lồng truyện, hai người kể chuyện (tác giả và nhân vật). Nhờ đó, đảm bảo tính chân thực, tạo ra một phương thức miêu tả lịch sử mới: lịch sử trong mối quan hệ mật thiết với số phận cá nhân.
- Sáng tạo nhiều tình huống nghệ thuật, nhiều chi tiết tình tiết để khám phá chiều sâu tính cách nhân vật.
Số phận con người có sức rung cảm vô hạn của chất trữ tình sâu lắng. Nhà văn đã sáng tạo ra hình thức tự sự độc đáo, sự xen kẽ nhịp nhàng giọng điệu của người kể chuyện (tác giả và nhân vật chính). Sự hoà quyện chặt chẽ chất trữ tình của tác giả và chất trữ tình của nhân vật đã mở rộng, tăng cường đến tối đa cảm xúc nghĩ suy và những liên tưởng phong phú cho người đọc.
5.Chủ đề
Số phận con người tập trung khám phá nỗi bất hạnh của con người sau chiến tranh. Song tuy viết về nhưng đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, tác giả vẫn giữa vững niềm tin ở tính cách Nga kiên cường cũng như lòng tin ở cuộc sống bao dung.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)